Choáng váng là gì? Cách phân biệt chóng mặt và choáng váng

Đôi khi, chúng ta hay có câu nói “cửa miệng” như “Choáng váng hết cả đầu óc”, nhưng thực chất không phải ai cũng hiểu sâu, hiểu rõ và nhận biết được hết các vấn đề xoay quanh triệu chứng choáng váng, chóng mặt. Đây là cảm giác gì, xuất phát do đâu, có nguy hiểm không và phải làm thế nào mỗi khi bị khởi phát? Hãy cùng 5 Nhất Nhất tìm hiểu sâu hơn về chứng bệnh rất phổ biến này!

1. Choáng váng là gì?

Thực ra, choáng váng là một cảm giác khá mơ hồ, nhưng được mô tả chung là có thể bao gồm một hoặc nhiều biểu hiện có liên quan đến nhau như: Xây xẩm, nhìn mờ, cảm giác như bị ngợp, đầu bị hẫng một nhịp, tiền ngất (chuẩn bị ngất), mất thăng bằng, đứng không vững, dễ té ngã hoặc té ngã đột ngột, người vã mồ hôi và buồn nôn…

Cơn choáng váng thường xuất hiện sau những thay đổi tư thế hoặc thay đổi môi trường đột ngột, gây phản ứng bị “sốc” choáng.

choang-vang-la-gi
choáng váng thực chất là một cảm giác khá mơ hồ

2. Phân biệt chóng mặt và choáng váng như thế nào?

Khi đi khám bệnh, hầu hết người bệnh đều dễ dàng nhầm lẫn giữa hai loại khái niệm này. Cả hai triệu chứng chóng mặt và choáng váng đều khiến người bệnh cảm thấy mất thăng bằng, dễ té ngã hoặc té ngã, tức là đều có liên quan đến hệ tiền đình. Trên thực tế, cơn chóng mặt cũng thường có kèm theo cảm giác choáng váng, chúng có nhiều mối liên hệ mật thiết với nhau, khá phổ biến. 

Chóng mặt (vertigo) là cảm giác quay cuồng, bồng bềnh, cảm thấy cảnh vật xung quanh đang tự quay hoặc chính bản thân mình tự quay, mất thăng bằng, đứng không vững.

Triệu chứng này có thể chỉ kịch phát lành tính trong vài giây; có thể cấp tính với mức độ nặng nề không thể ngồi dậy hay đứng dậy, nằm liệt giường; cũng có thể mãn tính dai dẳng trong thời gian dài. Người bệnh đồng thời cũng có thể mắc kèm thêm một số biểu hiện khác như đau đầu, hoa mắt, ù tai, mất ngủ, buồn nôn, đau mỏi vai gáy, tê bì chân tay, nhất là ở những người trung niên, cao tuổi.

Choáng váng (dizziness) như mô tả theo khái niệm như tại [Phần 1], tức là không có cảm giác cảnh vật hoặc bản thân xoay tròn. Choáng váng thiên về cảm giác xây xẩm tức thời, lảo đảo, bủn rủn, lú lẫn…

Cả hai triệu chứng đều vô cùng khó chịu và có thể làm mất thăng bằng tức thì, hệ tiền đình rối loạn, gây nguy cơ té ngã cho người bệnh, rất nguy hiểm.

phan-biet-trong-mat-va-choang-vang
Cả chóng mặt và choáng váng đều vô cùng khó chịu và có thể làm mất thăng bằng

3. Khi nào cần gặp bác sĩ?

Trường hợp cấp tính với các biểu hiện nặng cần cấp cứu ngay:

  • Nạn nhân mới trải qua một tai nạn, chấn thương sọ não trong thời gian gần đây. Rất có thể một bộ phận trong đầu bệnh nhân gặp vấn đề gây ra hiện tượng choáng, có thể ngất.
  • Bệnh nhân có sẵn bệnh nền tim mạch hay tai biến mạch máu não.
  • Bệnh nhân có kèm theo hiện tượng sốc, nôn ói, khó thở.
  • Bệnh nhân là phụ nữ, có kèm biểu hiện đau bụng nặng nề, nghi ngờ mang thai ngoài dạ con.
  • Bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân bị tiểu đường…

Trường hợp có khả năng phải cấp cứu nhưng không khẩn cấp, cần đặc biệt chú ý theo dõi, kiểm tra và điều trị:

  • Người bị thiếu máu não mãn tính; Người bị rối loạn tiền đình mãn tính.
  • Bị suy nhược nhẹ sau khi chứng kiến một cảnh tượng không dễ chịu (ví dụ như cảnh máu me…) hoặc vừa tiêm thuốc, với một số biểu hiện kèm theo như buồn nôn, người lạnh, tái mặt…
  • Người vừa phải làm việc nặng nhọc gây mất sức, lao lực; Người bị nhiễm bệnh cúm.
  • Những người do đặc thù nghề nghiệp phải ngồi hoặc đứng hoặc nằm lâu ở một tư thế cố định, ví dụ như dân văn phòng ngồi quá lâu một chỗ không đứng dậy, người lính phải trực gác…
  • Những người làm việc đầu óc với tần suất căng thẳng cao, liên tục chịu áp lực từ nhiều phía.
  • Người cao tuổi thức dậy trong đêm, bị mất nước do tiêu chảy hoặc đổ nhiều mồ hôi…
  • Một số yếu tố tâm lý khác như lo âu, hoảng loạn, u uất, kích động… Hoặc đơn giản là để bản thân bị quá đói.

Nhìn chung, choáng váng, chóng mặt nếu xuất hiện đột ngột, triệu chứng nặng nề (cấp tính) hoặc biểu hiện dai dẳng, tái phát nhiều lần (mãn tính) thì cần phải đi gặp bác sĩ để kiểm tra và có phương pháp điều trị phù hợp, kịp thời.

khi-nao-can-gap-bac-si
Nếu mới trải qua một tai nạn mà có hiện tượng choáng váng nên đi gặp bác sĩ ngay

4. Cần phải làm gì khi bị choáng váng?

Khi thấy bản thân hoặc người xung quanh có các biểu hiện cơn choáng váng, chóng mặt, hãy thực hiện một số thao tác sau đây:

  • Nằm xuống hoặc đặt nạn nhân nằm xuống, nằm ngửa, không gối đầu.
  • Cởi khuy áo tại cổ hoặc nới lỏng áo vùng cổ ngực, kiểm tra các vị trí quần áo thít chặt vào người và nới rộng ra.
  • Nếu thời tiết nóng thì mở cửa cho thoáng mát, tránh tập trung đông người quanh nạn nhân; Nếu trời lạnh thì sưởi ấm không gian.
  • Dù không tập trung đông người nhưng vẫn cần có người túc trực bên cạnh nạn nhân để theo dõi diễn biến sức khoẻ.
  • Nếu nạn nhân trẻ, không có tiền sử bệnh tật liên quan thì chỉ cần nằm nghỉ ngơi vài phút là có thể tỉnh táo trở lại; Nếu nạn nhân là người trung niên, cao tuổi, có tiền sử bệnh về tai biến hay bệnh về tim, não thì phải đưa đi hoặc gọi cấp cứu ngay.
  • Không cho nạn nhân uống bất kể loại thuốc gì trừ khi đã được bác sĩ chỉ định trong các trường hợp tương tự.
  • Sau khi tình hình ổn định trở lại, phải đi khám kiểm tra và tiến hành điều trị bệnh đúng hướng, ngăn tái phát lâu dài.
choang-vang-nen-lam-gi
Nếu bạn trẻ và không có bệnh lý nền chỉ cần nghỉ ngơi vài phút là có thể tỉnh táo trở lại

5. Chẩn đoán và điều trị chứng choáng váng

Việc chẩn đoán chứng choáng váng, chóng mặt sẽ được dựa trên bệnh sử và thăm khám thực thể, lâm sàng bệnh nhân, kèm theo các xét nghiệm cần thiết. Bác sĩ chuyên môn sẽ có các biện pháp kiểm tra các triệu chứng liên quan như dáng đi bất thường, khả năng của thính giác, giật nhãn cầu xoay ngang tự phát hay dựa vào những biểu hiện kèm theo như đau đầu, nôn mửa, mắt kém, mất ngủ…

Dựa theo chuyên môn, bác sĩ sẽ kê các loại thuốc ức chế tiền đình để cắt dẫn truyền thần kinh trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, chúng có thể cản trở sự bù trừ của hệ thần kinh trung ương, kéo dài thời gian của các triệu chứng, kèm theo khá nhiều tác dụng phụ, nên bác sĩ sẽ thường cảnh báo cho người bệnh trước khi cho sử dụng. Người bệnh cũng không nên lạm dụng các loại thuốc này, chỉ sử dụng vừa phải.

Để hạn chế các tác dụng phụ không muốn có của thuốc Tây, người bệnh nên chuyển sang sử dụng hoặc kết hợp sử dụng Đông y để đảm bảo được tiêu chí lành tính mà vẫn hiệu quả. Đông y chú trọng việc tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, chú trọng khả năng tự khôi phục và tái tạo cơ thể, khi đó các triệu chứng sẽ tự thuyên giảm dần, nhưng không phải giảm tạm thời mà là duy trì hiệu quả bền vững, ngăn được tình trạng tái phát rất tốt.

Đối với triệu chứng choáng váng, Đông y xác định phần lớn nguyên nhân là do huyết hư, ứ trệ gây ra thiếu máu lên não, mà cụ thể là thiếu máu đến hệ tiền đình, khiến hệ tiền đình hoạt động không ổn định, rối loạn, gây ra hàng loạt biểu hiện của sự mất thăng bằng, trong đó có choáng váng, chóng mặt…

Quan điểm điều trị của Đông y là phải thông tắc huyết ứ, bồi bổ huyết hư, cơ chế tăng cường cung cấp máu tập trung đến hệ tiền đình, bồi dưỡng làm hệ tiền đình khoẻ, vững vàng, ổn định. Nhờ vậy, các triệu chứng liên quan như choáng váng, chóng mặt, bồng bềnh, quay cuồng, mất thăng bằng, đau đầu, mất ngủ, đau mỏi vai gáy, tê bì chân tay… cũng sẽ thuyên giảm rõ rệt và rất ít tái phát trở lại.

Tuy nhiên, không phải cứ Đông y là hiệu quả!

Thị trường quá tràn lan đủ loại Đông y hoạt huyết tốt có, xấu có, trung bình có, không rõ nguồn gốc cũng có… Không chỉ khó phân biệt chất lượng, người bệnh còn hết sức hoang mang trước những quảng cáo nói quá sự thật, nâng tầm hiệu quả quá đà, khiến người dùng cả tin “tiền mất tật mang”.

thông tin tư vấn

Lên đầu trang
Loading